Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 01 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), trong một gia đình nho học. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người làng Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc Thành phố Huế). Mẹ ông là bà Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới. Năm 1833, trong bối cảnh biến động sau cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, cha ông đưa ông ra Huế gửi bạn để tiếp tục việc học. Nguyễn Đình Chiểu sống tại Huế từ 11 tuổi (1833) đến 18 tuổi (1840), sau đó trở về Gia Định. Năm 1843, ông đỗ Tú tài tại trường thi Gia Định lúc 21 tuổi, mở ra con đường hoạn lộ sáng lạn.

Cụ Nguyễn Đình Chiểu
Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi Hội năm 1849. Đến rằm tháng 11 năm 1848, mẹ ông qua đời tại Gia Định. Nhận tin dữ, ông bỏ thi, dẫn em trai theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ. Trên đường về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất vả và thời tiết thất thường, đến Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng và bị mù cả hai mắt. Lâm cảnh mù lòa, hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút – tất cả như sụp đổ cùng một lúc.
Sau khi mãn tang mẹ (1851), ông mở trường dạy học và làm thuốc tại vùng Gia Định. Năm 1854, ông cưới bà Lê Thị Điền, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc - người em gái thứ năm của một học trò yêu quý thầy, đã xin gia đình tác hợp. Từ đây, cuộc đời ông gắn bó với ba sứ mệnh: nhà giáo - dùng đôi tai để lắng nghe, dùng trí nhớ phi thường để ghi khắc, dùng trái tim để cảm nhận từng chữ nghĩa; thầy thuốc - say mê nghiên cứu y thư, bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo, được dân chúng kính trọng gọi là “thầy thuốc mù”; và nhà thơ - dùng ngọn bút để nói lên nỗi lòng, gửi gắm đạo lý và về sau khích lệ lòng yêu nước.
Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược. Năm 1859, thành Gia Định thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình về sống tại làng Thanh Ba, Cần Giuộc - quê vợ ông. Tại đây, ông sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những tuyệt tác bất hủ của văn học yêu nước Việt Nam. Năm 1862, sau Hòa ước Nhâm Tuất - ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay người Pháp - Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Cần Giuộc về định cư tại Ba Tri (bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long).
Những năm tháng cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với vùng đất Ba Tri. Lúc bấy giờ, Ba Tri còn là nơi xa xôi, rừng rậm hoang vu, dân cư thưa thớt, đầy rẫy thách thức. Nhưng chính tại nơi đây, Nguyễn Đình Chiểu đã ghi dấu một hành trình cống hiến phi thường. Trong 15 năm đầu tiên khi về Ba Tri (1862-1877), ông sinh sống tại làng Mỹ Nhơn, giáp ranh làng Mỹ Chánh. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, và đặc biệt – dùng văn chương làm vũ khí phục vụ cuộc đấu tranh của đồng bào Nam Kỳ. Ông có những liên hệ mật thiết với các lãnh tụ nghĩa quân, trong đó có Trương Định – người mà ông đã có thư từ trao đổi về mưu lược kháng chiến, và sau khi Trương Định hy sinh (1864), ông đã viết bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn để điếu. Các tác phẩm quan trọng như Ngư Tiều y thuật vấn đáp và Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh cũng được ông sáng tác trong thời kỳ này. Tại Ba Mỹ, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một trí thức, mà còn được xem như một người thầy tinh thần, một quân sư cho phong trào kháng Pháp.

Ông Christian Manhart - Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam trao Nghị quyết vinh danh Nguyễn Đình Chiểu
cho Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hoàng Đạo Cương, tại lễ kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu (Ảnh: Nguyễn Hải)
Năm 1877, ông dời đến làng An Bình Đông (nay thuộc xã An Đức, gần thị trấn Ba Tri). Nguyễn Đình Chiểu qua đời vào ngày 3 tháng 7 năm 1888 (ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý), hưởng thọ 66 tuổi. Tương truyền, ngày đưa tang ông, cả cánh đồng làng An Bình Đông rợp trắng màu khăn tang. Ông được an táng cạnh mộ vợ trên phần đất do chính ông chọn trước khi mất, nay thuộc ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là phường Ba tri, tỉnh Vĩnh Long).
Tại kỳ họp lần thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO diễn ra từ ngày 9 đến 24/11/2021 tại Paris, Tổ chức đã chính thức thông qua Nghị quyết vinh danh Nguyễn Đình Chiểu là "nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nhân loại". Điều làm nên giá trị cốt lõi trong sự ghi nhận này không đơn thuần là tài năng văn chương, mà là sự hội tụ của ba phẩm cách mà UNESCO đặc biệt trân trọng: nhà văn hóa, nhà giáo và thầy thuốc.
Thứ nhất, về phương diện văn hóa, UNESCO khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là "một nhà văn hóa, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam". Ông là người đã sáng tác nên những tác phẩm bất hủ như Lục Vân Tiên – truyện thơ được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trong số các tác phẩm văn học Việt Nam cổ điển. Văn chương của ông không chỉ phản ánh chân thực một thời đại đau thương mà còn chứa đựng những triết lý nhân văn sâu sắc về hòa bình, về tình yêu thương giữa con người với con người – những giá trị "hoàn toàn phù hợp với triết lý và mục tiêu của UNESCO". Đặc biệt, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dựng nên một tượng đài bất tử về người nông dân Nam Bộ, đưa họ từ thân phận "cui cút làm ăn" lên vị thế những anh hùng dân tộc.
Thứ hai, ông là tấm gương vượt qua nghịch cảnh và theo đuổi lý tưởng học tập suốt đời – một thông điệp mà UNESCO đặc biệt nhấn mạnh. Bị mù cả hai mắt ở tuổi 27 sau khi nhận tin mẹ mất và phải bỏ dở con đường khoa bảng, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã không khuất phục. Ông tự học để trở thành nhà giáo, mở trường dạy học; tự học để trở thành lương y, bốc thuốc chữa bệnh cho dân; tự học để trở thành thi sĩ với một sự nghiệp đồ sộ . GS.TS Nguyễn Chí Bền, người trực tiếp xây dựng hồ sơ trình UNESCO, đã nhận xét: "Nguyễn Đình Chiểu là hai lần gương sáng. Gương sáng thứ nhất là tự học, gương sáng gấp hai lần là tự học trong hoàn cảnh có thể tạm gọi là nghịch cảnh". Hành trình ấy là biểu tượng sống động cho tinh thần hiếu học và ý chí vươn lên của con người trước mọi nghịch cảnh – một giá trị mà UNESCO luôn đề cao trong các chương trình giáo dục toàn cầu.
Thứ ba, Nguyễn Đình Chiểu được UNESCO ghi nhận như một nhà giáo và thầy thuốc vĩ đại, người đã cống hiến trọn đời để lan tỏa kiến thức và cứu giúp Nhân dân. Trên cương vị người thầy, ông truyền dạy không chỉ chữ nghĩa mà còn đạo lý làm người; trên cương vị lương y, ông chữa bệnh không chỉ bằng thuốc men mà còn bằng tấm lòng nhân ái. Sự kết hợp hiếm có giữa tài năng, đạo đức và lòng nhân ái ấy đã chạm đến những giá trị phổ quát mà nhân loại hướng tới.
Sự công nhận của UNESCO đã đưa Nguyễn Đình Chiểu từ một danh nhân văn hóa dân tộc lên tầm vóc toàn cầu. Những triết lý về hòa bình, về lòng khoan dung và tinh thần yêu nước, phản kháng chống ngoại xâm của ông không chỉ có giá trị với lịch sử Việt Nam mà còn cộng hưởng với những khát vọng chung của nhân loại.
Hơn thế nữa, cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu còn là một biểu tượng mạnh mẽ về khát vọng hòa nhập và cống hiến của người khuyết tật. Như đại diện UNESCO tại Việt Nam Christian Manhart đã khẳng định, ông là "niềm hy vọng lớn lao, là tấm gương cho những người khuyết tật". Trong bối cảnh thế giới đang nỗ lực xây dựng một xã hội bao trùm, không bỏ lại ai phía sau, câu chuyện về người thầy giáo mù lòa nhưng có đôi mắt của trí tuệ và trái tim rộng mở ấy mang một thông điệp đầy sức lay động.
Nhân kỷ niệm 204 năm ngày sinh của Danh nhân Văn hóa Thế giới Nguyễn Đình Chiểu, là dịp để mỗi người Việt Nam, nhất là cán bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long soi lại chính mình trong ánh sáng của danh nhân - để chiêm nghiệm về nghị lực, về nhân cách, về tình yêu nước và tinh thần nhân văn mà ông đã thắp lên từ một thân phận đầy bóng tối./.





