Đồng chí PHẠM HÙNG Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và cách mạng Việt Nam

Nhân kỷ niệm 114 năm Ngày sinh của đồng chí Phạm Hùng (11/6/1912 – 11/6/2024), chúng ta cùng nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của một nhà lãnh đạo kiệt xuất – người chiến sĩ cộng sản kiên trung, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, tận tụy hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại, có những con người mà cuộc đời và sự nghiệp trở thành biểu tượng sáng ngời về lòng trung thành với lý tưởng cộng sản, ý chí kiên cường và tinh thần tận tụy hy sinh vì dân tộc. Đồng chí Phạm Hùng (1912 - 1988), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những nhà lãnh đạo như thế. Hơn 60 năm hoạt động cách mạng, dù ở cương vị hay hoàn cảnh nào, đồng chí luôn nêu cao tinh thần “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, xứng đáng là “người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam”.

Đồng chí Phạm Hùng tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11 tháng 6 năm 1912, tại ấp Long Thiềng, làng Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Năm 16 tuổi, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh, sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản. Năm 1930, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư Chi bộ trường học. Năm 1931, khi mới 19 tuổi, đồng chí được phân công làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, lãnh đạo phong trào đấu tranh phát triển mạnh mẽ.

Tháng 6 năm 1931, đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Mỹ Tho, bị kết án 3 năm tù và 3 năm quản thúc. Ngày 20 tháng 9 năm 1932, thực dân Pháp mở phiên tòa đại hình, kết án tử hình đồng chí. Đối diện cái chết, người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi vẫn giữ vững khí phách hiên ngang. Trước áp lực đấu tranh của nhân dân và sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp, thực dân Pháp buộc phải giảm án xuống khổ sai chung thân. Ngày 17 tháng 1 năm 1934, đồng chí bị đày ra Côn Đảo – “địa ngục trần gian”. 14 năm bị giam cầm tại đây (1934 - 1945) là quãng thời gian gian khổ nhưng oanh liệt. Đồng chí được bầu làm Bí thư Đảo ủy, biến nhà tù thành trường học cách mạng, tổ chức tuyên truyền, giáo dục lý luận, đào tạo đội ngũ cán bộ kiên trung cho Đảng. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, đồng chí lãnh đạo tù nhân đấu tranh giải phóng nhà tù Côn Đảo.

Sau khi được đón về đất liền (tháng 9/1945), đồng chí tham gia ngay cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Tháng 10/1945, đồng chí được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ, phụ trách Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc. Đầu năm 1946, đồng chí làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Trên cương vị này, đồng chí vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến của Trung ương, chỉ đạo xây dựng khối đoàn kết, kiện toàn bộ máy lãnh đạo, trực tiếp xây dựng lực lượng công an cách mạng. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ V (tháng 1/1950), Đề án “Công an nhân dân Việt Nam” do đồng chí trình bày đã được thông qua, trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho lực lượng Công an nhân dân trong nhiều thập kỷ sau.

Tại Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2/1951), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau Hiệp định Genève (1954), đồng chí làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ. Năm 1956, đồng chí được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị. Tháng 4/1958, đồng chí được bầu làm Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách kinh tế. Tại Đại hội Đảng lần thứ III (tháng 9/1960), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Từ năm 1967 đến năm 1975, đồng chí Phạm Hùng được cử vào miền Nam, đảm nhiệm chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam và Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng. Đây là giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất. Trên cương vị người đứng đầu cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng tại chiến trường, đồng chí đã cùng tập thể Trung ương Cục lãnh đạo quân và dân miền Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, tổ chức các chiến dịch quân sự lớn, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày thống nhất, đồng chí được giao lãnh đạo, điều hành công việc của Đảng và Nhà nước ở miền Nam. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) – Đại hội khởi xướng công cuộc Đổi mới – đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị. Tháng 6/1987, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ), trở thành Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đầu tiên của thời kỳ Đổi mới – thời kỳ đầy cam go, thử thách với khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và lạm phát phi mã.

Mặc dù thời gian tại chức 267 ngày (từ tháng 6/1987 đến khi qua đời ngày 10/3/1988), đồng chí Phạm Hùng đã thể hiện tư duy lãnh đạo đột phá, kiên quyết đưa chủ trương đổi mới vào cuộc sống. Đồng chí chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, kiên quyết thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm lao động và hộ nông dân – bước đi then chốt phá bỏ thế bế tắc trong nông nghiệp. Đồng chí cũng là một trong những nhà lãnh đạo đi đầu trong cuộc chiến chống tiêu cực, lạm phát, tham nhũng. Đồng chí nổi tiếng với phong cách gần dân, sâu sát cơ sở, thường xuyên đi thực tế đến những vùng khó khăn nhất. Suốt cuộc đời, đồng chí luôn nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, sống giản dị, khiêm tốn, là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, một người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 10 tháng 3 năm 1988, trên đường công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Hùng đột ngột qua đời, để lại niềm tiếc thương vô hạn. Cùng năm, đồng chí được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất. Mặc dù thời gian đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng không dài, di sản đồng chí Phạm Hùng để lại là vô cùng to lớn. Đồng chí không chỉ là lãnh tụ kiệt xuất, nhà chiến lược quân sự tài ba, nhà quản lý kinh tế sắc sảo, mà còn là con người của đạo đức và bản lĩnh.

Đối với thế hệ hôm nay và mai sau, tấm gương của đồng chí Phạm Hùng mãi mãi là bài học quý báu về lòng trung thành với Đảng, về tinh thần hy sinh vì Nhân dân, về ý chí vượt qua mọi thử thách. Đồng chí xứng đáng được tôn vinh là một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một người con ưu tú của quê hương Vĩnh Long, một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng./.

Tác giả
Giang Bằng – UBMMTQ VN tỉnh