Đồng chí Hồ Tùng Mậu - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của đảng và dân tộc

Đồng Chí Hồ Tùng Mậu

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, 

trọn đời vì sự nghiệp cách mạng của đảng và dân tộc

 

          Trong lịch sử đấu tranh oanh liệt của Đảng và dân tộc ta thế kỷ XX, có những tên tuổi đã trở thành biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên trung và tinh thần cách mạng bất khuất. Đồng chí Hồ Tùng Mậu chính là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc như thế. Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của ông là dịp để toàn Đảng, toàn dân ta tri ân sâu sắc một cuộc đời trọn vẹn hiến dâng cho độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân, đồng thời soi rọi những bài học đạo đức cách mạng mẫu mực vào công cuộc xây dựng đất nước hôm nay.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Quỳnh Anh) – một vùng quê giàu truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng. Gia tộc đồng chí thuộc hàng “danh gia vọng tộc” của làng khoa bảng Quỳnh Đôi, cũng là gia tộc đời nối đời tham gia chống thực dân Pháp. Ông nội đồng chí là Phó bảng Hồ Bá Ôn, làm quan đến chức Án sát tỉnh Nam Định, đã anh dũng hy sinh khi chỉ huy giữ thành Nam Định (1883). Thân sinh đồng chí là cụ Hồ Bá Kiện, một chí sĩ yêu nước trong phong trào Văn Thân, đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan mà tham gia chống Pháp, bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết khi lãnh đạo khởi nghĩa phá ngục tại Nhà tù Lao Bảo.

Lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, được sự hun đúc ở quê hương giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, lại được thừa hưởng những phẩm chất, khí tiết từ gia đình; noi gương các bậc chí sĩ, Hồ Tùng Mậu đã nuôi chí lớn và sớm tìm đến con đường cách mạng. Năm 20 tuổi, chứng kiến sự áp bức của thực dân Pháp với cha mình và đồng bào, Hồ Tùng Mậu đã rời xa gia đình đến huyện Thanh Chương và Anh Sơn dạy học với mong muốn tìm được những người có cùng chí hướng, cứu đồng bào, cứu lấy Tổ quốc.

Năm 1919, Hồ Tùng Mậu cùng với Lê Hồng Sơn, Ngô Chính Học bí mật xuất dương sang Lào, sau đó đến Xiêm (Thái Lan) hoạt động. Sau ba tháng ở Trại Cày, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn được chí sĩ Đặng Thúc Hứa giúp đỡ vượt biên sang Quảng Châu (Trung Quốc). Trên đường xuất dương, ông quyết định đổi tên thành Hồ Tùng Mậu cho tiện hoạt động bí mật. “Tùng Mậu” có nghĩa là cây tùng tươi tốt. Ông quyết tâm sống như cây tùng, cây bách, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng vững chãi, lạc quan, tươi trẻ.

Tại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu thuê nhà của chí sĩ Hồ Học Lãm để học tiếng Trung, tiếng Anh, rồi đi học tại Trường trung học An sinh (Hàng Châu), Trường Điện tín của Công ty xe lửa Hán – Việt (Quảng Châu). Năm 1923, do bất đồng với tư tưởng bảo thủ của Việt Nam Quang phục Hội, Hồ Tùng Mậu cùng các đồng chí Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn… thành lập Tâm Tâm xã (còn gọi là Tân Việt Thanh niên Đoàn) – một tổ chức thanh niên có tư tưởng phục quốc, hoạt động cách mạng, nhấn mạnh sự đồng tâm nhất trí hy sinh cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Hồ Tùng Mậu là khi được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vào cuối năm 1924 tại Quảng Châu. Dưới sự giác ngộ và dẫn dắt của Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Hồ Tùng Mậu cùng nhiều thanh niên yêu nước đã tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

Tháng 6 năm 1925, đồng chí tích cực tham gia cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – tổ chức tiền thân quan trọng chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Tùng Mậu là một trong những hạt nhân nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ đầu, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc tin tưởng giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Ban huấn luyện chính trị đặt tại số 13 đường Văn Minh (Quảng Châu), Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn là giảng viên phụ giảng trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc. Đồng chí đã cùng Người tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ, đào tạo nhiều thế hệ cách mạng cho Việt Nam. Tháng 3 năm 1926, do yêu cầu của cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu Hồ Tùng Mậu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí là một trong năm thành viên đầu tiên được Người chọn làm hạt nhân của Cộng sản Đoàn để xúc tiến mở rộng tổ chức cách mạng của người Việt Nam ở Quảng Châu.

Trong những năm hoạt động đầy gian khổ, Hồ Tùng Mậu luôn thể hiện bản lĩnh kiên cường của một người chiến sĩ cộng sản. Từ năm 1927 đến năm 1929, ông đã ba lần bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, đến ngày 3 tháng 2 năm 1930 thì được thả. Trong suốt thời gian bị giam cầm, ông vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, không khuất phục trước kẻ thù. Sau khi được thả, ông là một trong những người góp phần tích cực vào việc hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam tại Cửu Long (Hương Cảng), tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 6 năm 1931, khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hồng Kông bắt giữ, chính đồng chí Hồ Tùng Mậu đã mưu trí liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ và mời luật sư Loseby bào chữa cho Người. Hành động này khiến ông bị nhà cầm quyền Hồng Kông bắt giam và trục xuất sau đó. Ngay khi vừa đặt chân đến Thượng Hải vào ngày 30 tháng 6 năm 1931, ông bị mật thám Pháp bắt giải về Việt Nam và kết án tù chung thân. Trải qua các địa ngục trần gian từ nhà tù Hỏa Lò, nhà lao Kon Tum đến nhà đày Buôn Ma Thuột từ năm 1933 đến năm 1941, ông vẫn luôn giữ vững khí tiết kiên trung. Sau khi được trả tự do, đồng chí bắt liên lạc với Đảng, tích cực tham gia chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đóng góp vào thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

​Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước thế "ngàn cân treo sợi tóc". Đồng chí Hồ Tùng Mậu được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó nhiều trọng trách lớn: Chính ủy Chiến khu 4, Giám đốc Tổng chính cục, Tổng Thanh tra Chính phủ, và Chủ tịch Hội Liên Việt liên khu 4. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. ​Ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí cũng tỏ rõ là một nhà lãnh đạo chính trị, quân sự tài năng, một người cán bộ liêm chính, chí công vô tư. Trên cương vị Tổng Thanh tra Chính phủ đầu tiên, ông đã đặt những nền móng vững chắc cho công tác thanh tra cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, giữ gìn sự trong sạch của bộ máy nhà nước. ​Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác tại Liên khu 4, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã anh dũng hy sinh sau một trận oanh tạc bằng máy bay của thực dân Pháp tại thị trấn Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu. 

Gần 30 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Cuộc đời, tên tuổi của Hồ Tùng Mậu mãi mãi là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về ý chí phi thường, xả thân chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần tận tụy, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần ra sức học tập và noi theo tấm gương sáng ngời của đồng chí Hồ Tùng Mậu: trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc; kiên định lý tưởng cách mạng; cần cù, sáng tạo trong học tập và lao động; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó chính là cách thiết thực nhất để tri ân công lao to lớn của đồng chí – một nhà cách mạng tiền bối kiên trung, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng mãi trong lịch sử cách mạng Việt Nam./.

Tác giả
Ban Huyền – UBMMTQ VN tỉnh