NHỚ NGÀY GIỖ TỔ

Từ lâu, những câu ca dao cổ đã khẳng định và minh chứng rằng giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch trở thành thông lệ hằng năm:

“Ai về Phú Thọ cùng ta,

Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười.”

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba

Khắp miền truyền mãi câu ca

Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.”

Tưởng nhớ đến các Vua Hùng, chúng ta càng tự hào hướng về cội nguồn của dân tộc, tri ân tổ tiên đã vun đắp để lại cho con cháu ngày nay một giang sơn tươi đẹp, thể hiện bằng hai câu đối ở đền Hùng:

“Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản, sông Đà, non nước vẫn quay về đất Tổ”
“Văn minh đang buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ Ông.”

Giỗ tổ Hùng Vương (Đình Tân Phú, xã Phước Mỹ Trung.  Ảnh: Bảo Xuyên)

Thời đại Hùng Vương là thời đại mở đầu rực rỡ của lịch sử dân tộc Việt Nam. Ông cha ta dũng cảm khai sơn, phá thạch dựng nên bờ cõi, lập nên quốc gia độc lập đầu tiên của nước Việt. Mười tám đời vua Hùng đã xây dựng nước Văn Lang với nền văn minh lúa nước, nền văn minh sông Hồng rực rỡ mở đầu cho thời kỳ phồn thịnh, ấm no của dân tộc. Tạo nên nền văn hoá truyền thống phong phú từ thời tiền Đông Sơn đến văn hoá Đông Sơn, cải tiến những nghi lễ, tín ngưỡng của dân, dạy dân biết làm ruộng, đánh giặc, tham gia bàn bạc các việc hệ trọng của đất nước, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ và bền vững nền văn hoá dân tộc Việt Nam.

Tục truyền rằng thời đại Hùng Vương bắt đầu từ họ Hồng Bàng. Vua đầu tiên của họ Hồng Bàng là Lộc Tục tức Kinh Dương Vương (còn gọi là Hùng Dương) làm vua nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương cưới nàng Long Nữ con gái vua Hồ Động Đình (Động Đình Quân) hạ sinh một trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi cha xưng vương là Lạc Long Quân (tức Hùng Hiền). Lạc Long Quân cưới con gái của Đế Lai là nàng Âu Cơ, sinh một cái bọc có trăm trứng, nở thành trăm con trai. Một ngày Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, mình là giống tiên, thủy hỏa khác nhau, không ở cùng nhau được”. Hai người bèn chia con ở riêng, 50 người con theo mẹ lên non, 50 người theo cha xuống biển. Lạc Long Quân phong người con trai trưởng trong số các con là Hùng Lân làm vua nước Văn Lang tức là Thủy tổ người Việt chúng ta ngày nay (theo Hùng Triều Ngọc Phả).

Thời đại Hùng Vương truyền được 18 đời vua. Tôn hiệu và thời gian trị vì như sau: Kinh Dương Vương, tức Lộc Tục trị vì 250 năm, Hùng Hiền Vương Sùng Lãm (Lạc Long Quân) 269 năm, Hùng Quốc Vương Lân Lang 217 năm, Hùng Nghị Vương Tân Lang 300 năm, Hùng Hy Vương Viên Lang 200 năm, Hùng Hoa Vương Pháp Hải 81 năm, Hùng Huy Vương Long Tiên 300 năm, Hùng Ninh Vương Thừa Văn 100 năm, Hùng Chiêu Vương Quốc Tiên 80 năm, Hùng Uy Vương Hoàng Hải 90 năm, Hùng Trinh Vương Hưng Đức 107 năm, Hùng Vũ Vương Đức Hiền 96 năm, Hùng Việt Vương Tuấn Lang 105 năm, Hùng Định Vương Chân Nhân 99 năm, Hùng Triều Vương Cảnh Thiều 90 năm, Hùng Tạo Vương Đức Quân 92 năm, Hùng Nghị Vương Bảo Quang 116 năm, Hùng Duệ Vương Duệ Đức 115 năm. Tổng cộng 18 đời vua kể cả Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân là 2.655 năm.

Thời các vua Hùng nước ta gọi là Văn Lang. Nước Văn Lang kinh đô đặt ở Phong Châu (tức là khu vực đền Hùng ở Phú Thọ ngày nay). Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia làm 15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phú Lộc, Tân Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoang, Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn. Văn Lang của bộ tộc Lạc Việt là nguồn gốc của nước Việt Nam ta ngày nay, bắt đầu từ thời Hùng Vương thứ II (Hùng Lân). Vì vậy, nhân dân ta thường tự hào rằng mình là con Rồng, cháu Tiên hay nói cách khác là con Lạc, cháu Hồng.

Từ bao đời nay đồng bào ta luôn tôn kính và ngưỡng mộ các vua Hùng. Mọi người Việt Nam thuộc các dân tộc, tầng lớp và lứa tuổi, dù ở trong nước hay nước ngoài đều cùng có chung một tổ tiên, chung ngày giỗ, chung cội nguồn. Vua Lê Hiển Tông viết:

“Nhớ nước Văn Lang cổ

Dòng vua đầu tiên viết sử

Mười tám đời nối nhau

Ba sông đẹp như vẽ

Mộ Tổ ở lưng đồi

Đền thờ bên sườn núi

Muôn dặm tới phụng thờ

Khói hương còn mãi mãi.”

Giỗ Tổ Hùng Vương trở thành biểu tượng của giá trị văn hoá tinh thần sâu sắc, thể hiện niềm tự hào, tạo nên sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để tưởng nhớ công ơn tổ tiên, sau Cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ lâm thời đã cử cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền Chủ tịch nước lên giỗ Tổ năm đầu tiên (1946). Qua 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp thắng lợi, mặc dù bận trăm công nghìn việc, Bác Hồ rất quan tâm đến giáo dục các thế hệ con cháu hướng về cội nguồn dân tộc và phải bảo vệ nền văn hoá dân tộc gắn với công cuộc kháng chiến cứu nước. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Hồ Chủ tịch cùng với đoàn quân tiến về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, khi ghé viếng đền Hùng, Người đã nói với chiến sĩ, đồng bào:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Ngày 19/12/2001 Chính phủ đã có công văn số 1149/CP-VX, chính thức xác định ngày giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10-3 âm lịch hằng năm) là một trong ngày lễ lớn của dân tộc. Nhân ngày giỗ Tổ Hùng Vương, hằng năm Đảng và Nhà nước đều có chủ trương tổ chức các hoạt động hướng về cội nguồn dân tộc, UBTWMTTQ Việt Nam chủ trì mở nhiều cuộc vận động toàn dân hướng về cội nguồn nhằm phát huy truyền thống dựng nước của các vua Hùng, để giữ nước và xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Sự kiện UNESCO chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (ngày 6/12/2012) là một minh chứng rõ nét nhất cho giá trị và tầm vóc của ngày Quốc lễ này. từ một tín ngưỡng dân gian, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Đảng và Nhà nước ta kế thừa, nâng tầm thành một ngày Lễ lớn, một Quốc lễ, trở thành biểu tượng thiêng liêng của khối đại đoàn kết và sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam./.

Tác giả
Ban Huyền